Trang chủ
Quê hương đất nước
Dòng họ
Gia đình
Bè bạn
Văn học nghệ thuật
Góc thư giãn
Liên hệ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Đằn sau những thành công 4/6/18
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

CT Tất niên họ Phạm Tp.HCM 20/01/19
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Lại một cây cầu từ thiện được khánh thành
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

AsianCup 2019 - 3/2/2019
 

Số lượt truy cập
AmazingCounters.com

 
VÀO NGHỀ-2
 

VÀO NGHỀ-2

... Hôm nay chủ nhật, được nghỉ lao động mấy anh giáo viên của trường ra thị xã Cao Bằng chơi với một số học sinh của trường hiện đang làm việc tại đây. Khi bọn Đào đến khu tập thể mấy cô mới ngủ dậy. Thầy giáo Triều gõ cửa một phòng tập thể. Có tiếng vọng ra:

- Ai đấy? Đợi chúng em một chút.

- Dậy đi chúng mày ơi! Có khách.

Một cô tên là Hằng càu nhàu: ”không biết khách nào mà đến sớm thế! ”Mới có hơn 8 giờ không để cho người ta ngủ thêm chút nữa. Các cô vội vàng thu dọn chăn màn, xếp lại mấy cuốn sách xem dở đêm qua còn để ở đầu giường. Khi đã tạm ổn, cô Chi nói vọng ra:

- Xin mời quí khách vào nhà! - Vừa nói cô vừa mở cửa phòng..

Các cô vô cùng ngạc nhiên thấy hai thầy giáo trẻ đứng trước mặt, Cô Chi vội chữa thẹn:

- Chúng em xin lỗi các thầy, thật không ngờ các thày lại đến thăm bọn em giữa nơi rừng rú heo hút này.

Đào và Triều vào phòng, hai người ngồi xuống chiếc bàn uống nước nhỏ kê sát bên cửa sổ. Hai cô xin phép đi rửa mặt. Mười phút sau họ bước vào, Cô Chi lại hỏi

- Hai thầy đã ăn sáng chưa? Cùng chúng em đi ra của hàng ăn uống của mậu dịch uống cà phê nhé!

Thầy Triệu trả lời:

- Bon tôi ăn sáng rồi, bây giờ là lính công trường phải tuân theo giờ giấc như quân đội vậy.

- Hai thầy đợi chúng em năm phút – Cô Hằng nói.

Hai cô kéo tấm rido ở cuối phòng thay quần áo, chải đầu cho tươm tất rồi ra mời hai thầy đi ra cửa hàng ăn uống của thị xã. Họ vừa đi vừa nói chuyện. Cuốc bộ khoảng 15 phút đã thấy cửa hàng ngay trước mặt. Đó là một căn nhà cấp 4 xây gạch khá rộng. Ở đây có phục vụ cơm, phở, bún nhưng đều phải có tem phiếu. Riêng các đồ uống thì tự do. Bốn thầy trò ngồi đối diện nhau quanh một chiếc bàn gỗ nhỏ. Cô Hằng có vẻ rất quen mấy cô nhân viên ở đây gọi:

- Này Thu ơi! Cho chị 4 cà phê đặc biệt nhé.

Vừa đợi cà phê vừa nói chuyện:

- Chi lên đây được bao lâu rồi? - Thầy Triệu hỏi

- Em lên đây được đứng 2 năm rồi đấy. Sau khi ra trường em lên đây ngay

- Thế Hằng sau khi ra trường cũng lên ngay đây à? – Đào hỏi

- Em mới lên đây được mấy thảng, Lúc đầu em về Công ty công trình sau sức khoẻ yếu không thể làm được em xin lên đây cùng cái Chi vì hai đứa đồng hương Hải Phòng mà.

Có đến 10 phút sau cô Thu mới bê ra 4 tách cà phê khói bốc nghi ngút. Khi cô ấy đặt trước mặt Đào một tách, Đào rất ngạc nhiên sao trên mặt tách cà phê lại có một lớp nổi lên như người ta bỏ mỡ vào ấy. Đào thật thà hỏi Hằng:

- Hằng à! Sao người ta lại cho mỡ vào cà phê thế?

Hằng bấm bụng không dám cười thành tiếng nói:

- Thưa thầy đấy là cà phê đặc biệt họ cho bơ vào đấy.

- Thầy cứ nhấm nháp sẽ thấy nó ngon hơn cà phê thường rất nhiều.

- À ra thế! Mình ngố thật – Đào thú nhận.

Lại một điều làm Đào ngạc nhiên nữa là cái muỗng nhỏ để ngoáy cà phê đều bị khoan một lỗ thủng ở giữa. Đào lại hỏi Hằng;

- Hằng à, sao muỗng cà phê lại thủng lỗ như thế?

- Đấy là trò tinh nghịch của bọn em, mỗi lần uống xong đều bỏ túi mang về để trêu cửa hàng ấy mà, tất nhiên họ không thể ngờ mấy cô gái trẻ lại nghịch ngợm như thế nên chẳng bao giờ phát hiện ra bọn em. Khi đã mất nhiều quá họ rút kinh nghiệm khoan thủng ở giữa thì có lấy về cũng không làm gì được nên không bị mất nữa. Chúng em chỉ nghịch thế thôi chứ mang về rồi lại vứt xó chứ có dùng gì đâu!

- Các cô vẫn giữ tác phong học trò tinh nghịch như quỉ sứ ấy - Thầy Triều xen vào.

Những Chủ nhật sau, các thầy đều vào thăm các cô nhưng không đi chung 4 người nữa mà tách thành hai đôi. Thầy Triều đi với cô Chi còn Đào đi chơi với cô Hằng. Hằng là một cô gái không đẹp, người thấp bé song lại sống hướng nội. Cô rất thích văn học nên rất hợp với Đào. Một hôm Đào xin phép đoàn trưởng ra chơi với Hằng từ chiều thứ bẩy. Hai anh em rủ nhau ra cửa hàng ăn tối, lại cùng uốn loại cà phê đặc biệtcó váng ấy rồi cùng dạo chơi trên đường phố Cao Bằng. Thị xã này chẳng có bao nhiêu dân, khá vắng vẻ, từ dãy phố này sang dãy phố kia có khi có cả một giải đất trống. Họ vào công viên của thị xã. Hôm ấy là tuần trăng nên Công viên trở nên vô cùng huyền ảo. Hai người ngồi xuống một chiếc gế đá ngắm trăng. Một lúc sau Hằng chủ động gợi chuyện:

- Anh Đào à, nhà anh được mấy anh chị em? – Không biết Hằng đã chuyển cách xưng hô tự bao giờ. Đào cũng tự đón nhận sự thay đổi ấy cho thân mật vì cứ thầy thầy trò trò nó có vẻ thế nào ấy. Vả lại Đào cũng chỉ hơn Hằng có vài tuổi.

- Nhà anh có ba anh em. Một cô đang học tổng hợp Văn. Còn một cô đang học trung cấp kế toán dưới Thái Bình.

- Thế còn nhà em? Ông bà cụ thân sinh vẫn mạnh khoẻ chứ?

- Cám ơn anh, bố mẹ em đã mất cả rồi, em còn 2 chị nữa dang làm ăn ở Hải Phòng.

- Em đã đọc Luyện thành gang thépchưa?

- Em đọc rồi, Thế còn anh?

- Đó là cuốn gối đầu giường của anh hồi còn học ở Bắc Kinh. Anh đã đọc nó qua bản dịch tiếng Trung Quốc đấy.

- Anh tài thật đấy, chẳng bù cho em chẳng biết một ngoại ngữ nào.

- Em có thích nhân vật Paven Coocsaghin không?

- Em thích nhân vật Tônhia hơn

- Vì sao vậy?

- Vì cô ấy rất lãng mạn và rất đẹp

Những buổi đi chơi như thế họ thường trao đổi tâm sự với nhau về những cuốn tiểu thuyết đã đọc, những nhân vật mà họ yêu thích. Có buổi họ cũng tranh luận về thơ. Họ đọc cho nhau nghe những bài thơ họ thích có bài Hằng đã chép vào sổ thơ của mình hồi còn học ở trường Hà Đông.

*

* *

Sau khi đi lao động ở Cao Bằng về được nghỉ hè cho đến đầu tháng 8. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ đã chính thức ném bom miền Bắc. Theo chủ trương chung của nhà nước là các trường đều phải đi sơ tán để bảo toàn lực lượng. Trường trung cấp Bưu điện Hà Đông lúc này tách ra thành hai trường một trường về Hà Nam chuyên đào tạo các khoá Trung cấp còn một trường sơ tán lên Cẩm Khê Phú Thọ chuyên Đào tạo các lớp đại học chuyên tu. Trường lên Cẩm Khê đổi thành trường Cán bộ Bưu điện. Để bảo đảm bí mật tên liên lạc của trường được gọi là “Đoàn sản xuất Trường Sơn”.

Nhà trường sơ tán trên địa bàn của hai xã Tăng Xá và Minh Tân của huyện Cẩm Khê. Thầy và trò đều được phân về ở nhờ nhà dân. Nhà rộng thì nhận 4, 5 người . Nhà hẹp thì nhận 2, 3 người. Lúc này Đào đã thuộc biên chế chính thức của tổ giáo viên Hữu tuyến sơ tán tại thôn Quyết Tiến. Tổ giáo viên Hữu tuyến nhận thêm một số người mới tốt nghiệp ở Liên xô về như anh Vận, anh Đàn, anh Thanh, anh Tru, anh Toán, anh Thép và hai cậu trẻ hơn cỡ như Đào là cậu Kỹ và cậu Tiệp. Đào, anh Đàn, cậu Tiệp và cậu Dung được phân ở nhà Bủ Nhiên ở thôn Quyết Tiến cửa ngõ của Đại bản doanh “Đoàn sản xuất Trường Sơn”. Nhà Bủ Nhiên có bốn mẹ con: Bủ Nhiên, cậu Nhỉnh, cậu Nhực và cô con gái út tên là Nhũ. Nhiên là tên con gái cả của bà đã đi lấy chồng ở bên Vũ Ẻn. Nhà bà có một căn nhà lợp cọ 5 gian và một ngôi nhà ngang một gian hai trái làm bếp cũng lợp cọ rất gọn ghẽ. Bà nhường cho các thầy giáo hẳn 3 gian nhà ngoài còn căn buồng bên phải là phòng ngủ của bà và cô gái út còn gian buồng bên trái giành cho 2 cậu con trai. Cả xóm có một cái giếng ở ngay bên kia đường nước rất trong nhưng mà khá sâu có lẽ phải tới hơn 10m. Người ta lây nước về ăn, người ta tắm giặt đều ở đấy. Chiều hôm mới đến Đào và mấy anh cùng nhà mang quần áo ra giếng tắm. Cô Nhũ gọi:

- Này mấy anh ơi, nhớ mang cái “mầu” đi nhé!

- Cái “mầu” là cái gì, sao đi tắm lại phải mang cái “mầu?”

Cô ta cười khúc khích, một lúc sau nới nói:

- Cái “mầu” là cái gầu múc nước ở dưới xuôi ấy.

- À ra thế, thế nhà mình có cái “mầu” không?

- Có chứ, các anh ra vại nước mà lấy. Nhà em vẫn mắc trên một chiếc cọc tre ngay cạnh vại nước ấy.

Lại một hôm khác, bọn Đào đang ngồi đọc tài liệu để chuẩn bị giáo án thì một cậu thanh niên nhà bên cạnh sang. Ngó nghiêng không thấy ai ở nhà liền hỏi bọn Đào:

- Này mấy anh có thấy “cái đừng” cậu Nhực mượn của nhà tôi hôm qua để đâu không?

- “Cái đừng” là cái gì, bọn tôi không hiểu.

- Cái đừng là cái thang ấy mà.

- Ở trên này dùng nhiều từ lạ quá chúng tôi đâu có biết. Anh Đán nói rồi ra sau nhà vác cái thang trả người hàng xóm. Còn rất nhiều từ lạ lẫm khác Đào và các bạn phải một thời gian sau mới quen.

Chẳng mấy chốc một học kỳ đã qua. Các lớp tổ chức sơ kết trước khi nghỉ Tết. Anh chị em lớn tuổi ở các lớp chuyên tu đã góp rất nhiều ý khiến cho nhà trường. Một hôm anh Kiếm, tổ trưởng tổ hữu tuyến lên giao ban. Cuộc họp tan, đồng chí Hoa Bí thư Đảng uỷ nhà trường gọi lại:

- Này đồng chí Kiếm à, ở lại đợi tôi một chút. Tôi muốn trao đổi một việc liên quan đến một số giáo viên trẻ của các đông chí.

Anh Kiếm không biết là chuyện gì, cứ nhìn sắc mặt của đồng chí Bí thư là đã thấy có điều gì nghiêm trọng đây. Anh nán lại đợi đồng chí Hoa còn đang dặn dò thêm anh Trưởng phòng Tổ chức. Trong lòng anh cứ thắc thỏm không biết chuyện lành hay chuyện dữ. Anh Trưởng phòng Tổ chức đứng dậy ra về, đồng chí Bí thư liền gọi anh Kiếm lại, mời anh gồi xuống chiếc ghế trước mặt nói:

- Mấy lớp Đại học chuyên tu có góp ý cho một số giáo viên trẻ. Họ nói các giáo viên trẻ giảng bài rất khó hiểu, đặc biệt là ra bài kiểm tra rất khó, có hôm có tới hai phần ba lớp không đạt yêu cầu. Các đồng chí ấy có thái độ rất căng, qui kết cho các giáo viên trẻ là không có lập trường giai cấp. Tất nhiên Đảng uỷ không nghĩ như thế. Nhưng anh về cùng bàn với anh em về việc này cho thoả đáng nếu không sẽ anh hưởng đến tình đoàn kết giữa thày trò cũng như ảnh hưởng đến kết quả giảng dạy và học tập.

- Vâng, chúng tôi sẽ kiểm điểm về việc này.

Anh Kiếm ra về trong lòng nặng trĩu. Anh không hiểu tại sao các lớp chuyên tu lại có thái độ như vậy. Một sự chụp mũ trắng trợn. Anh không biết giải thích thế nào với anh chị em giáo viên đây! Nhưng đây là ý kiếm của nhà trường anh không thể không chấp hành. Anh liền triệu tập một cuộc họp bất thường. Sau khi anh truyền đạt lại ý kiến của đồng chí Bí thư. Anh chị em giáo viên phản ứng mỗi người một khác. Cậu Tuế, giảng môn điện thoại lâu nay là người rất trầm tĩnh mà hôm nay lại có ý kiến đầu tiên, anh nói:

- Chúng tôi giảng dạy theo đúng chương trình nhà trường đề ra. Chúng tôi cũng ra bài kiểm tra bám sát nội dung bài giảng. Chấm bài kiểm tra đều có “barem” điểm thống nhất của bộ môn sao lại bảo chúng tôi là không có lập trường giai cấp?

Anh Giáo có ý kiến:

- Thế cứ giản ước bớt chương trình và cho điểm “lỏng” là có lập trường gai cấp ư? Chảng lẽ chúng tôi bảo đảm chất lượng giảng dạy lại là mất lập trường giai câp?

Còn rất nhiều ý kiến gay gắt khác. Đào cũng rất bức súc, anh giơ tay xin nói:

- Chúng tôi ngoài giờ lên lớp ra còn thường xuyên xuống phụ đạo cho các anh chị ấy. Chúng tôi đặc biệt chú ý đến các đồng chí nhiều tuổi tiếp thu chậm giảng đi giảng lại đến khi các đồng chí ấy nắm được bài mới thôi. Thế mà vẫn bảo chúng tôi là không có lập trường giai cấp ư? Vậy phải hiểu thế nào là lập trường giai cấp? Làm thế nào để có lập trường giai cấp?

Cuộc họp ngày càng sôi nổi. Anh chị em giáo viên rất bức súc về việc bị chụp mũ một cách khiên cưỡng như vậy. Anh Kiếm cũng đồng tình với anh chị em giáo viên nên sau đó ít lâu đã bị chuyển đi công tác khác.

Năm 1965 nhà nước ra quyết định thành lập trường Đại học kỹ thuật thông tin liên lạc anh Vận được bổ nhiệm làm Trưởng khoa Hữu tuyến. Cũng năm 1965 đã chiêu sinh học sinh phổ thông vào trường. Cách đặt tên cho các lớp học cũng khác. Các lớp Đại học chuyên tu trước đây gọi là Đại học 1, Đại học 2, Đại học 3, Đại học 4, Đại học 5 và Đại học 6. Còn bây giờ các lớp được đặt là 65H chỉ các lớp khoa Hữu tuyến và nhập học năm 1965. Tương tự các lớp thuộc Khoa Vô tuyến có tên gọi là 65V còn các lớp thuộc Khoa Kinh tế Bưu điện được gọi là 65K. Tất nhiên vẫn có cán bộ được đi học nhưng đều phải thi đầu vào như học sinh phổ thông chứ không cử tuyển như trước nữa.

Năm 1966, Đào chuyển từ Quyết Tiến vào Thuỷ Trầm, anh ở nhờ nhà anh chị Tình. Đôi vợ chồng trẻ này đã có một cháu nhỏ, nhà nghèo hết chỗ nói. Căn nhà đơn sơ tường đất lợp bằng lá cọ cũng vẻn vẹn chỉ có một gian hai trái. Anh chị nhường cho Đào một trái còn anh chị ở một trái. Còn gian duy nhất ở giữa đặt một chiếc trõng tre. Chiếc trõng tre ấy vừa là bàn tiếp khách vừa là bàn ăn. Dưới sân là một túp bếp nhỏ xíu, một người chui ra chui vào cũng khó. Hai anh chị đi làm cả ngày nên Đào hầu như được toàn quyền sử dụng gian giữa để soạn bài những buổi không lên lớp. Đào quan sát thấy những bữa cơm của gia đình hầu như chỉ có khoai hoặc sắn luộc thi thoảng mới có bữa cơm, bữa cháo. Nhìn đứa trẻ mới ba bốn tuổi ngày nào cũng phải ăn khoai ăn sắn trong lòng Đào rất xót sa.

Một bữa tôí trên mâm cơ của vợ chồng anh Tình cung vẫn chỉ có đĩa rau khoai lang luộc, đĩa muối vừng và một rá sắn luộc. Đứa trẻ mếu máo:

- Con hông ăn sắn đâu, con muốn ăn cơm cơ!

- Thôi ăn nốt bữa nay, mai mẹ đi chợ mua gạo về nấu cơm cho con nhé!

- Ứ ừ! Con muốn ăm cơm ngay bây giờ cơ!

- Này con Hoa có ăn không nào, bố cho mấy roi bây giờ - Anh Tình doạ con.

- Thôi đừng khóc nữa nào! Chú có cơm cho cháu đây

Đào từ trong buồng bước ra trên tay anh có một bát cơm đầy. Con Hoa thấy bát cơm mắt sáng lên. Nó lấm lét nhìn bố mẹ.

- Thôi để anh ăn, chúng tôi cũng biết xuất ăn tập thể có nhiều nhặn gì đâu

- Anh chị để cháu ăn khỏi tội, ngày nào cũng ăn sắn người lớn còn sót ruột huống chi trẻ con. Chiều nay tôi đã xin thêm được một miếng cháy nên no rồi, anh cú để cháu ăn.

Năn nỉ mãi anh chị mới chịu nhận. Cái Hoa đỡ lấy bát cơm, nó nhón tay bốc lấy bốc để cho vào mồm nhai ngấu nghiến một cách ngon lành. Và cũng từ buổi đó bữa cơm chiều nào Đào cũng dành nửa suất của mình cho cháu bé. Đổi lại anh chị hôm nào cũng dành cho anh một đĩa sắn hoặc một đĩa khoai luộc nên thế là cả hai chú cháu đều được no cả. Đào thực sự đã trở thành người thân trong gia đình anh Tình.

*

* *

Vừa giảng dạy vừa xây dựng các phòng thí nghiệm trên những đồi cọ nối liền giữa Thuỷ Trầm và Quyết Tiến. Khoa Hữu tuyến xây dựng 3 phòng thí nghiệm: Phòng Tải ba, phòng Báo-Thoại và phòng Dây-Cáp. Mỗi phòng được xây ở lưng chừng các quả đồi. Mỗi phòng đều dành riêng một gian trái để cho giáo viên bảo vệ phòng thí nghiệm ở. Đào được khoa phân công cùng ở với một cán bộ thí nghiệm tên là Tuân, Tuân tốt nghiệp Trung cấp ra được giữ lại trường làm giáo viên hướng dãn thí nghiệm. Cậu ta cũng sấp xỉ tuỏi Đào nên hai anh em ở với nhau rất hợp “Gu”. Phòng thí nghiệm Báo-Thoại do Tuân và Đào trông nom ở gần ngay nhà bủ Sách. Ông cụ rất vui tính, thỉnh thoảng vẫn xuống chơi với Đào và Tuân. Hầu như thành cấi lệ hôm nnào cũng mang cho hai anh em nào là sắn luộc, nào là khoai luộc có hôm còn cho cả nải chuối. Tất nhiên nhiệm vụ chính của Đào là lên lớp. Môn chính mà Đào phụ trách vẫn là môn Điện báo. Đào phải giảng toàn bộ giáo trình Điện báo chứ không chỉ giảng phần Điện báo Teletip như hồi dạy trung cấp nữa. Do quy mô nhà trường đã phát triển, số lớp tăng lên rất nhanh. Giáo viên thiếu trầm trọng nên mỗi giáo viên không chỉ đảm nhận một môn mà còn phải kiêm nhiệm một, hai môn nữa tuỳ theo khả năng của từng người. Đào xung phong chuẩn bị thêm môn khuếch đại. Mấy năm qua Đào cũng đã tự rút cho mình những kinh ngiệm trong giảng dạy. Muốn cho học sinh tiếp thu tốt, nhất là đối với những anh chị lớn tuổi. Người thầy giáo phải biết tìm những thí dụ sinh động trong cuộc sống để

minh hoạ cho các niệm trừu tượng của bài học. Ví dụ một lần giảng đến phần khuếch đại “đẩy kéo” cho lớp Đại học 6. Sau khi Đào đã trình bày xong vẫn thấy các học viên mặt cứ nghệt ra, chắc là họ chẳng hiểu Đào nói gì. Đào liền hỏi:

- Các anh chị đã thấy cái cối xay thóc bao giờ chưa?

- Chúng tôi thấy rồi - mọi người trả lời

- Cối xay thì liên quan gì đến bài khuếch đại của chúng

ta! - Một chị mạnh dạn đứng lên nói.

- Có chứ! Các anh, các chị thấy mạch đẩy kéo thực chất

là hại mạch đơn ghép lại. Khi mạch này tăng thì mạch kia lại giảm có khác nào ta kéo cái cần cối xay thóc đâu. Chính vì vậy người ta mới gọi là mạch “đẩy - kéo” đấy.

- À ra thế! - Cả lớp ồ lên vui vẻ.

Thầy trò của khoa đã cùng nhau hạ thổ lớp học xuống sâu trong lòng đồi. Nhìn bên ngoài chỉ thấy một mái lá cọ nhô lên khỏi mặt đồi một chút để lấy ánh sáng còn toàn bộ lớp học đều nằm sâu ở dưới. Vào lớp học cũng bằng đường hào. Lớp học còn có lối thoát ra chân đồi bằng những giao thông hào khá sâu, thầy trò có thể chạy lom khom thoát ra ngoài phòng khi lớp học bị ném bom hoặc bắn phá. Lớp học làm chìm như thế nên rất thiếu ánh sáng. Vì lớp học ít nên phải học theo ca. Ca một từ 8 giờ đến 12 giờ, ca hai từ 1 giờ đến 5 giờ. chiều. Tuy trong thời chiến điều kiện rất khó khăn nhưng nhà trường vẫn chủ trương phải tăng cường giờ thực hành, Việc bạt đồi để dựng các phòng thí nghiệm tường chát đất, lợp lá cọ không phải là cái gì ghê gớm mà vấn đề đưa hàng chục tấn thiết bị máy móc lên tới các phòng thí nghiệm mới đáng nói. Đào nhớ lại khi hò nhau khiêng những chiếc máy nổ. Cũng giống hệt như khiêng côt ximăng trên tuyến đường dây Cao Bằng hồi mùa hè 1964 Đào dã từng tham gia. Những chiếc đòn tre oằn lưng mọi người, bám lấy mặt đồi nhích lên từng bước. Các máy móc khác thì tháo nhỏ từng bờ - lốc nhỏ khiêng lên. Chỉ khi nào có giờ thí nghiệm mới chạy máy nổ còn mọi sinh hoạt hàng ngày đều dùng đèn dầu hoả.

Ăn cơm chiều xong trời bỗng nổi cơn giông. Bầu trời tối sầm lại, gió thổi làm cho những cây cọ cũng phải trao đảo, các cây nhỏ hơn nằm rạp cả xuống. Trên cái mảnh đất trung du này sấm sét mới ghê gớm làm sao! Một tiếng nổ vang trời và một cây cọ bị sét đánh gãy gục ngang thân. Gió thì gầm rú như nó trút cơn thịnh nộ lên vùng đồi hiền lành này. Nhìn cái cảnh ấy ai mà dám bước ra khỏi nhà. Thế mà người ta vẫn thấy có một con người bé nhỏ, khoác chiếc áo bạt loạng choạng bước đi trong mưa gió. Nếu thỉnh thoảng không thấy ánh đèn pin loé lên thì con người ấy đã lẫn vào đêm tối. Đào quyết xuống đồi như thế vì đã có hẹn phụ đạo cho mấy cô cậu học trò ở lớp 65H. Đào xuống đến lớp cũng là lúc cơn mưa tan. Đào bước vào một căn nhà lá cọ, bên chiếc trõng tre có hai ba cậu đang chăm chú học bài dưới ánh đèn dầu leo lét. Thấy có người vào, bọn họ ngoảnh ra thấy một người mặc áo mưa đứng trước mặt họ, Khi họ nhận ra Đào liền chào:

- Chúng em chào thầy ạ! Trời mưa thế này thày còn xuống đây làm gì cho vất vả.

- Tôi đã hứa với các bạn thì phải giữ lời chứ! – Đào vừa nói vừa cởi chiếc áo mưa. Đào hỏi thêm:

- Thế chỉ có mấy bạn thôi à còn mấy cô nữa đâu?

- Thầy ngồi nghỉ một chút chúng em đi gọi các cô ấy sang ngay thôi Một cậu nhanh nhảu nói, rồi chạy ngay ra khỏi nhà. Khoảng mấy phút sau đã nghe léo nhéo ngoài cửa. Mấy cô bước vào nhà, đồng thanh chào:

- Chúng em chào thầy ạ!

- Bây giờ các bạn có vấn đề gì thì hỏi đi tôi sẽ trả lời – Đào nói

- Thầy giảng lại cho chúng em mạch khuếch đại đảy kéo đi! Thực tình chúng em vẫn chưa thực hiểu lắm.

Đào lại giảng lại cho họ lần nữa, anh nói rõ nguyên lý hoạt động của mạch điện rồi còn nêu lên các ưu khuyết điểm của mạch này và còn nói thêm rằng:

- Các bạn nhớ nắm vững mạch này ví sau này học đến môn tải ba người ta thường dùng mạch này đấy.

Sau khoảng một giờ các câu hỏi đã vãn. Đào hỏi:

- Tôi giảng trên lớp các bạn nắm được bao nhiêu phần trăm? Có điều gì cần rút kinh nghiệm?

- Thưa thầy thầy giảng thế là rõ ràng lắm nhiều bạn nắm được bài ngay trên lớp chỉ có lũ bọn em đầu đất nên mới không nắm được ngay thôi - một cậu ngồi khuất đằng sau trả lời.

- Chúng em thấy thầy giảng bài to quá, thầy cứ nói bé đi một chút chúng em vẫn nghe rõ mà. Thầy nói to như vậy tốn sức lắm - một cô gái nhỏ nhẹ nói.

Đào nghe vậy trong lòng rất cảm động, anh nói:

- Cám ơn các bạn từ nay tôi sẽ sửa.

Nhưng rồi những buổi lên lớp sau Đào vẫn nói oang oang chẳng giảm nhỏ chút nào. Âu cũng là thói quen, biết làm sao được!

*

* *

Một buổi tối đầu xuân năm 1967, tại lớp học chìm của khoa Hữu tuyến có một buổi lễ kết nạp Đảng viên mới. Chi bộ Hữu tuyến vẫn là một chi bộ ghép có cả giáo viên và học sinh (cán bộ đi học). Trên bảng là hai lá cờ đỏ sao vàng và cờ búa liềm. Ở giữa có treo ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Toàn chi bộ có hơn một chục đảng viên đã có mặt đông đủ. Đồng chí Vũ Tru, Phó bí thư chi bộ lên tuyên bố lý do:

- Trước tiên xin mời các đồng chí đứng dạy làm lễ chào cờ.

Tất cả đều đứng nghiêm trang, mắt hướng lên Quốc kỳ và Đảng kỳ. Đồng thanh hát bài Quốc tế ca. Đào đã có lần được nghe bài hát này và mấy hôm nay Đào cũng đã nhẩm học thuộc lòng. Nhưng khi nghe các đồng chí hát với các giọng cao thấp, trầm bổng khác nhau tuy không đều lắm nhưng rất nghiêm trang. Đào hát theo mà trong lòng thấy rất súc động. Trước mắt Đào hiện lên cảnh chiến luỹ của công nhân Paris cuối thế kỷ thứ 19, họ hát vang bài hát cách mạng hùng tráng ấy.

Chào cờ xong mọi người ngồi xuống, anh Tru nói tiếp:

- Hôm nay chi bộ ta họp để kết nạp một Đoàn viên Đoàn TNCS vào hàng ngũ của Đảng ta. Đó là đồng chí Phạn Đào. Tiếp theo chương trình xin mời đồng chí Nguyễn Vận, Bí thư chi bộ đồng thời là người giới thiệu thứ nhất lên đọc bản lý lịch của đồng chí Đào và lời giới thiệu của mình.

Đào đứng lên, anh Vận bắt đầu nói:

- Đồng chí Phan Đào, sinh ngày 21 tháng 3 năm 1940 tại làng He, xã Phúc thắng huyện Kim Anh tỉnh Vĩnh Phú. Sinh ra từ một gia đình cách mạng bố mẹ đều là Đảng viên cộng sản. Đồng chí Đào là một thanh niên có tinh thần cầu tiến, nghiêm túc trong công tác giảng dậy, luôn tận tình với học sinh, có tinh thần đấu tranh phê và tự phê; được quần chúng tín nhiệm, .... Tôi, Nguyễn Vận là một đảng viên chính thức xin trân trọng giới thiệu đồng chí Phan Đào gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam

Tiếp theo là đồng chí Bùi Liêm, Bí thư chi đoàn lên đọc lời giới thiệu.

Bùi liêm nói:

- Tôi xin thay mặt cho BCH Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhà trường giới thiệu đồng chí Phan Đào một đoàn viên ưu tú của Đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí Đào là một giáo viên trẻ được đào tạo bàu bản tại nước bạn, đã được kết nạp vào Đoàn ngay tại Trung Quốc. Trong công tác Đoàn đồng chí luôn xung phong gương mẫu. Trong công tác chuyên môn đồng chí luôn giúp đỡ anh chị em hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tác phong giản dị, khiêm tốn.

Đến lượt Đào đứng lên tuyên thệ. Anh nói:

- Thưa cac đồng chí trong chi bộ, tôi không biết nói gì hơn trước vinh dự này. Tôi xin hứa sẽ nỗ lực hơn nữa để xứng đáng là một Đảng viên của Đảng. Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong chi bộ, trong chi đoàn đã hết lòng chỉ bảo, giúp đỡ tôi phấn đấu trong thời gian vừa qua. Tôi xin cám ơn tất cả!

*

* *

Đào nhận được thư của Hằng từ Cao Bằng xa xôi gửi về. Thư nào cũng thế Hằng đều tự làm lấy những chiếc phong bì thật là cầu kỳ. Hằng dùng kéo cắt một hàng rộng koảng một phân thành rất nhiều các giải nhỏ hình mũi tên rồi đan lại với nhau nom rất đẹp. Còn giấy tuy hoàn cảnh chiến tranh mà Hằng tìm đâu ra loại giấy pơ - luya màu hồng hoặc màu nõn chuối để viết thư cho Đào. Trong thư ngoài việc thăm hỏi ra còn nổ ra một cuộc “bút chiến” cực kỳ gay cấn. Trong thư Hằng phê phán kịch liệt quan điểm cực đoan của Đào là người yêu của mình phải là một cô gái thuần “Việt Nam” không hề một chút lai căng. Rồi Hằng kết luận: “nếu anh cứ bám lấy cái quan điểm cực đoan ấy thì anh về quê mà lấy vợ”. Chẳng hiểu đó là một lời khuyên hay một sự giận dỗi! Thú thực sau chuyến đi làm đường dây ở Cao bằng, nhiều lần hai anh em đã tâm sự một cách rất thoải mái và có vẻ rất hợp nhau Hằng vẫn thường nói là giữa hai người có một “Tâm hồn đồng điiêụ”. Thế mà Đào không dám dấn tới nhất là nghe phong thanh Hằng đã có người yêu đi chiến đấu trong Nam. Từ đó Đào lại cố gắng gò cái tình cảm giữa Hằng và Đào chỉ là một tình bạn theo dúng nghĩa của nó. Những cánh thư “bạn bè” vẫn tiếp tục bay qua, bay lại giữa Cao Bằng và Cẩm Khê Vĩnh Phú.

Các cụ nói; “Vợ chồng là cái duyên cái số” Đào cảm thấy có vẻ đúng thật. Ngay trong trường hợp của Đào đây cũng thế thôi. Như trên đã nói Đào là một giáo viên trẻ, học ở ngoại quốc về, có bằng kĩ sư hẳn hoi, người ngợm cũng không đến nỗi nào, đã có không ít các cô học sinh xinh đẹp thầm yêu trộm nhớ. Rồi các chị lớn tuổi trong Khoa cũng đã giới thiệu nhiều đám mà chẳng đâu vào đâu. Đào nhớ một lần chị Quang dẫn Đào đến thăm một nhà bà con ở Hà nội có cô cháu gái mới đi học trung cấp dệt ở Tiệp Khắc về định mối mai cho Đao. Đào cũng đi, nhưng ôi thôi, khi đến nơi cô ấy khoe là có thể ăn một lúc hết hơn một trăm quả vải. Đào giật mình nghĩ: “ Nếu cô ấy mà là người yêu thì tiền đâu mà mua quà cho cô ấy ăn? Khi lương tháng của Đào chỉ vẻn vẹn 63 đồng” Thế là Đào không bao giờ đặt chân đến ngôi nhà có những chùm hoa ty - gôn trên mái cổng ở giữa lòng Hà Nội ấy nữa!

Câu nói dỗi của Hằng lại thành sự thật. Ngày mùng 1 tháng 1 năm 1966 Đào về quê cưới vợ. Tin này làm nhiều người giật mình khi biết Đào quyết định kết hôn với một cô gái nông thôn tên là Tuyến cùng quê với Đào. Trước đó mấy hôm Đào đã báo cáo Khoa và Khoa cũng đã cử anh chủ tịch công đoàn khoa và một anh bạn giáo viên trong khoa về dự đấm cưới của Đào. Ba anh em đáp tầu hoả về đến ga Phúc Yên thì xuống. Bà mẹ mình cũng đã về từ hôm trước đem một ít thuốc lá, bánh kẹo về (đây đều là tiêu chuẩn bìa C của ông cụ). Gần sáng bọn Đào mới về đến ga Phúc Yên. Đi thẳng về nhà cô Tuyến, đến cổng thấy trong nhà đèn vẫn sáng nghe rõ tiếng nói chuyện của hai bà thông gia. Ba người ra vại nước rửa qua mặt mũi chân tay rồi vào nằm trên chiếc giường tre ở gian ngoài nằm nghỉ cho lại sức. Hai bà thông gia cũng vào buồng nghỉ. Hai anh bạn nằm xuống là ngủ liền còn Đào thao thức không ngủ được.

Sáng hôm sau mặt trời mới lên chư khỏi nóc nhà đám thanh niên trong chi đoàn đã kéo đến khá đông. Họ chẳng đến tay không mà người thì vác tre, người thì cầm bó lạt lại có cả hai anh chàng khệ nệ khiêng một miếng vải bạt lớn đã cuộn lại. Tuyến đã dậy từ rất sơm xuống bếp nấu nước. Khi các bạn đến cô liên mời họ vào nhà uống nước. Hai bà cũng đã dậy ngồi ăn trầu và cũng đang têm trầu để đón khách. Bà biểu nói:

- Thôi trăm sự nhờ anh em trong Chi đoàn dựng hộ cái rạp để làm lễ cưới cho hai em, gia đình neo đơn quá các anh thông cảm. Cần cái gì các anh cứ bảo gia đình sẽ lo.

- Đó là nhiệm vụ của chúng cháu mà. Ai cũng đến lượt cả thôi. Gia dình cứ yên tâm thế nào từ giờ đến trưa là mọi việc dâu vào đấy.- Một anh có vẻ như Bí thư chi đoàn nói.

Một lát sau là đám thanh niên ai vào việc nấy dựng cái khung lên trước. Họ đang vừa làm vưa đùa nhau ý ới thì từ ngoài cổng đã nghe tiếng ông Giáo Thạc:

- Thế nào hai cô cậu dã chuẩn bị xong chưa để lên xã làm giấy đăng ký kết hôn?

- Mời ông Giáo vào sơi nước, xã bây giờ ai đã làm việc. – Hai bà đồng thanh mời.

Ngoài sân chẳng mấy chốc đám thanh niên đã dựng xong cái khung. Ông Giáo vào nhà chào hai bà và hai người khách của anh Đào. Ngồi nói chuyên một lúc rồi ông Giáo dẫn Đào và Tuyến lên xã làm thủ tục đăng ký kết hôn. Lên xã phải đợi khá lâu mới có người đến trụ sở. Thủ tục làm cũng đơn giản vì trên xã ai người ta còn lạ gì hai gia đình này. Anh Chủ tịch ký trước, Đầo và Tuyến ký sau rồi cuối cùng là ông Giáo người làm chứng ký. Anh Chủ tịch xã trân trọng đưa tờ giấy kết hôn cho Đào bắt tay mọi người không quên có lời chúc mừng hạnh phúc của đôi bạn trẻ. Họ về đến nhà thì cái rạp cũng đã dựng gần xong. Đúng đến gần trưa thì mọi công việc đã được hoàn tất. Buổi chiều cũng vẫn Chi đoàn đứng ra mượn bàn ghế của trường học đem về kê thành hàng thành lối cẩn thận. Cô Tuyến cùng mấy cô trong chi đoàn đi mượn thêm ít đĩa con để bày bánh kẹo. Khoảng 5 giờ chiều thì cơ quan ông Đại cử đại diện về dự đám cưới theo xe có hai cô em anh Đào cùng về.

Đến tối một chiếc đèn măng xông làm cả khu sáng rực lên. Khách khứa đến rất đông ngồi chật hết cả các hàng ghế đã kê. Tụi trẻ con thì đùa nhau chạy loạn xạ cả. Mọi người ngồi ăn trầu xơi nước, nói chuyện rất rôm rả. Buổi lễ thành hôn bắt đầu bằng một số tiết mục văn nghệ cây nhà lá vườn của Chi đoàn. Ông Giáo hôm ấy làm chủ hôn. Ông giới thiệu các đại biểu đến dự ngoài cơ quan ông Đại, đại diện khoa Hữu tuyến còn có ông Ba, bí thư Đảng uỷ xã, bạn thân của bà Biểu và ông Đại thay mặt cho chính quyền xã đến dự. Sau đấy ông Giáo mời cô dâu và chú rể ra mắt mọi người. Hôm nay tuy là mùa đông nhưng trời lại rất ấm nên cô dâu chỉ mặc một chiếc áo sơ mi trắng, quần lụa đen. Chú rể cũng giản dị không kém với chiếc sơmi màu xanh hoà bình và chiếc quần kaki mầu lông chuột. Không khí buổi hôn lế náo nhiệt hẳn lên, người ta tranh nhau bình phẩm, ai cũng khen họ đẹp đôi. Có người nói: “Thật đúng là đôi trai tài gái sắc”. Mọi người vừa ăn bánh kẹo vưa nói chuyện vui vẻ. Tụi trẻ con thì tranh nhau thuốc lá phải dẹp mãi mới yên. Khoảng hơn chín giờ thì buổi lễ thành hôn kết thúc. Mọi người ra về rất vui vẻ, đám thanh niên thì cứ trêu trọc làm cho cô Tuyến ngượng chui tọt vào trong buồng

Hai anh bạn của Đào theo ông Giáo về nhà ông nghỉ đêm. Hai bà thông gia ngủ ở phòng ngoài còn cô dâu chú rể được dành cho căn phòng trong làm ăn phòng hạnh phúc. Khổ nỗi cái giường tre quá cũ cứ cọt kẹt hoài Hai vợ chồng mới cưới bèn quyết định ra sân rút rơm vào trải xuống đất làm đệm. Sau đấy họ xuống đất nằm lại cảm thấy thoải mái vô cùng. Thật là “chiếc đệm tân hôn tuyệt vời”! Họ lắng nghe cứ thấy rúc rích như có con gì đó chạy ngoài sân. Té ra là đám thanh niên nghịch ngợm đã đến phá đám. Chúng cú rình nghe trộm động tĩnh trong buồng rồi cười khúc khích làm hai bà thông gia phải lên tiếng bọn họ mới chịu ra về. Hôm sau chú lái xe của cơ quan ông Đại đưa cả mấy mẹ con về Hà Nội. Mấy ngày phép ở Hà Nội mấy anh em rủ nhau đi chụp ảnh “cưới”. Thông thường phải chụp trước đằng này lại chụp sau. Đào nói vui:

-Trước vói sau cũng thé miễn là có ảnh kỷ niệm là được rồi.

Mấy anh em ra tận hiệu ảnh “Quốc tế” ở Hàng Khay để chụp ảnh. Họ chụp liền mấy kiểu, kiểu thì chụp chung bốn người, cái thì chụp chung 3 chị em, cái thì Tuyến mặc áo dài của Tâm đẻ chụp. Hai ngày sau lấy ảnh về Đào thích nhất là tấm ảnh Tuyến chụp một mình mà lại mặc áo cánh nâu, đội khăn vấn, trên ngực còn lấp lánh huy hiệu Đoàn viên. Tấm ảnh ấy cứ như cô “Tấm” trong chuyện cổ tích, đẹp không khác gì một diễn viên. Và đó chính là hình ảnh một người con gái “thuần Việt” mà Đào từng ước ao.

Khi trở lại trường Đào treo tấm ảnh đó lên tường ở phòng ngủ, ai đến cũng phải khen đẹp. Tiếng lành đồn xa các nữ sinh thi nhau đến chiêm ngưỡng “cô Tấm” của thầy Đào.

Để cải thiện đời sống Đào và Tuân đã cùng nhau nuôi một dàn gà khá đông. Trong đàn có một chú gà trống rất đẹp mã, chiếc mào to đỏ rực, lông đỏ tía sen lẫn mầu đen ở cổ. Bộ lông đuôi mới tuyệt vời làm sao, nó cong cong cao vút một cách ngạo nghễ. Đôi chân vàng óng có hai chiếc cựa vừa dài vừa nhọn làm cho anh chàng lại càng đẹp mã hơn. Có ba bốn con gà mái, chị mái nâu đang nuôi một đàn con hơn mười con. Một mái hoa mơ đanng đẻ, một mái vàng tranh đang ấp. Mỗi buổi chiều chỉ cần thổi một tiếng còi là chúng bay rào rào từ trên đồi cọ về tranh nhau những thức ăn mà Đào và Tuân rắc cho chúng. Mọi người hỏi bí quyết tại sao hai người lại nuôi được nhiều gà như vây? lấy gì cho chúng ăn?. Đào và Tuân rất hãnh diện nói “bí mật”, “thiên cơ” không thể tiết lộ. 

  Số lượt xem: 328
   
Các tin tức khác
   Trường Đại học "Tối tăm lầy lội"-2
   Trường Đại học "Tối tăm lầy lội"-1
   VÀO NGHỀ-3
   VÀO NGHỀ-1
   Cô nàng bán kẹo

 
© Copyright 2008 by Kehe -Trang web gia dinh.
All rights reserved. Designed by Vietnam Datacommunication Company - VDC2.