Trang chủ
Quê hương đất nước
Dòng họ
Gia đình
Bè bạn
Văn học nghệ thuật
Góc thư giãn
Liên hệ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Họ Phạm Văn Viết họp mặt đầu xuân 14.3.18
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Lời cám ơn -2/5/18
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Trở lại Vũng Tầu-10/05/18
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Đôi điều World Cup-1 - 20/06/18
 

Số lượt truy cập
AmazingCounters.com

 
ĐÔI ĐIỀU VỀ TẬP THƠ NẮNG QUÁI
 

ĐÔI ĐIỀU VỀ TẬP THƠ NẮNG QUÁI

của PHẠM THỊ THÚY LAN

Nhà báo Phạm Thị Thúy Lan chuyển cho tôi tập thơ của chị mang tựa đề NẮNG QUÁI, và muốn tôi có mấy lời cảm nhận về tập thơ này. Tôi cứ phân vân mãi không biết bắt đầu từ đâu!

Mọi người thường nói THƠ là NGƯỜI, nên tôi xin giới thiệu rất sơ lược về chị: Chị sinh năm 1945, tuổi con GÀ cho nên rất hợp với nghề làm báo. Chị tốt nghiệp Đại học Nông Nghiệp, rồi học thêm tại chức Đại học Kinh Tế Quốc Dân, được phân về làm công tác biên tập của NXB Nông Nghiệp, rồi sau lại làm cả biên tập báo của một Tạp chí chuyên ngành với Thẻ Nhà báo chuyên nghiệp. Tôi quen chị từ khi chị tham gia hoạt động dòng họ Phạm Việt Nam. Cũng rất lạ, đáng ra gái đã xuất giá thì phải chăm lo cho dòng họ nhà chồng, đằng này chị lại rất hăng hái tham gia việc họ Phạm là dòng họ nhà mình, mà lại được chồng nhiệt tình ủng hộ (tất nhiên vẫn phải làm tròn trách nhiệm là dâu trưởng của một dòng họ khá lớn)! Chúng tôi thấy chị có kinh nghiệm về biên tập nên phân công chị làm Tổng biên tập Bản tin nội tộc “Thông tin họ Phạm Việt Nam”, nằm trong chức trách của chị là Phó Chủ tịch Hội đồng Toàn quốc họ Phạm Việt Nam phụ trách mảng Thông tin Tư liệu. Tôi đã viết tặng chị bài thơ “Mẹ Đốp” để khẳng định công lao của chị với dòng họ! - Bài thơ ấy, nói đúng hơn, biệt danh “Mẹ Đốp” đã thành “thương hiệu” của chị theo nghĩa tích cực là “người truyền tin”! Rồi cũng chính vì làm việc họ, muốn thu hút và quảng bá các hoạt động dòng họ, chúng tôi thành lập CLB thơ Đường luật Phạm Đạo Phú (trước là CLB thơ Đường luật họ Phạm Việt Nam). Chị được phân công làm Phó Chủ nhiệm. Vốn có truyền thống gia đình, nên từ đó chị sáng tác nhiều bài thơ Đường luật và cả thơ tự do để kết nối bạn thơ tham gia việc họ. Nhưng cứ bộn bề công việc nên đến bây giờ mới cố gắng tập hợp lại biên soạn theo từng chuyên để để xuất bản tập thơ này.

Trước khi đi vào nội dung, xin nói về tên tập thơ: NẮNG QUÁI. Chị Thúy Lan bảo, tập thơ này là để đón mừng tuổi 75 của chị. Bảy lăm tuổi không còn là “xế chiều” nữa, mà là “chiều tà”, là “hoàng hôn” rồi. Nắng sắp tắt rồi, chỉ còn chút “NẮNG QUÁI” thôi, nghĩa là chút nắng yếu ớt trước khi mặt trời lặn xuống dưới đường chân trời, nó nhạt lắm, không đủ sức đem lại chút năng lượng nào. Nhưng với riêng chị thì:

Nắng quái dương tà đâu có nhạt

Lửa tâm nguyệt khuyết vẫn còn thiêu

(NẮNG QUÁI)

Con người đầy ý chí đó vẫn khẳng định

Chẳng cam buông lái nhìn bèo nổi

Không chịu cắm sào ngắm nước trôi

(TƠ TRỜI)

Và vẫn hoạt động xã hội không ngừng nghỉ như khi còn ở lứa tuổi sung sức khiến nhiều người cảm phục. Và trong khung cảnh của “chiều tà” nhưng vẫn bận rộn đó, chị đã viết tập thơ này với tất cả niềm đam mê trời sinh.

Tập thơ này chị chia làm 4 phần:

- Phần một: Đất nước có 70 bài

- Phần hai: Tâm giao có 39 bài

- Phần ba: Tâm tình có 89 bài

- Phần bốn: Thơ dịch từ chữ Hán có 34 bài

Tổng cộng là 232 bài

Phần thứ tư là thơ dịch, phần này tôi chỉ nói lướt qua, và chỉ lưu ý bạn đọc một chi tiết: Một số bài trong phần này là những bài thơ kinh điển của các Nhà thơ Trung Quốc và Việt Nam. Việc lựa chọn này là rất dũng cảm vì các bài thơ đó có nhiều dịch giả nổi tiếng đã dịch rất thành công. Thật đáng mừng ở đây những bài dịch của chị rất sát nghĩa và chuẩn mực về niêm luật thơ Đường, một số bài được chuyển thành thể thơ lục bát truyền thống dễ đi sâu vào lòng người mà tôi thích!

Tôi chỉ phân tích sâu 3 phần, là thơ sáng tác của chị.

Ở phần thứ nhất ĐẤT NƯỚC, ta gặp những bài thơ ca ngợi Tổ quốc và các vị anh hùng dân tộc, các vùng quê, các cảnh đẹp của đất nước, mô tả thiên nhiên khí hậu khắc nghiệt. Có thể điểm qua một số bài mà tôi cho là được, ví như. bài Còn mãi một vì sao ca ngợi công lao to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một vị tướng văn võ song toàn, tên tuổi được cả thế giới kính nể và Bảo tàng quân sự Anh quốc đã tôn vinh là một trong 10 vị tướng vĩ đại nhất của nhân loại qua mọi thời đại. Chỉ với hai câu, 14 chữ chị đã cho thấy hình ảnh Đại tướng nổi lên khá rõ:

Trí Văn uyên bác, đầy nhân nghĩa

Nghiệp Võ lừng danh, vẹn chiến bào.

Hay bài Cành đào xuân Kỷ Dậu (Tr24) ca ngợi người anh hùng áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ trong tình yêu với công chúa Ngọc Hân lãng mạn biết bao!

Dũng mãnh tướng công sôi nỗi nhớ

Dịu hiền thục nữ lắng niềm thương.

Hoặc bài ca ngợi Mẹ VN Anh hùng ở Đảo Lý Sơn (Tr25) chỉ với 2 câu mà làm mọi người thương cảm và quý trọng một người Mẹ đã hy sinh cả chồng và con cho Tổ Quốc:

Đớn đau đè xuống không ca thán

Gắng gượng đứng lên cố mỉm cười.

Bài Lính của dân (Tr23), vẽ lên hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ một cách rất sinh động mà chứa chan tình cảm với những từ “chí thép /chân trần” và “tâm hồng/ trí sáng”:

Vượt mọi hiểm nguy bền chí thép

Qua bao gian khổ vững chân trần

Mình mang áo trận tâm hồng thắm

Đầu đội ngôi sao trí sáng ngần.

Rồi như nhắc nhở con cháu giữ nghĩa thầy trò thật rõ ràng trong bài Lời người xưa (Tr54):

Tôn sư thụ hưởng ngàn điều tốt

Trọng đạo thấm nhuần vạn ý hay.

Những bài ca ngợi quê hương đất nước cũng rất đáng đọc như Muôn đời Đất Việt (Tr21), Lý Sơn ơi (Tr22), Vũng Tàu- một vùng mơ, Miền cổ tích (Tr30). Một số bài dành cho quê hương của chị mà cũng là chung cho nông thôn như Nhớ cảnh xưa (Tr36), Nhớ vườn ao (Tr37), Khác xa (Tr37)ta thấy một tình cảm nồng nàn với cảnh quê thanh bình xưa mà bâng khuâng trước những thay đổi do hiện đại hóa, có bài đã được nhạc sĩ Lê Xuân Thọ phổ nhạc thành một bài hát được nhiều người đánh giá cao. Ở phần này, tôi xin “bình” một bài thơ rất độc đáo, đó là bài Non nước Tràng An (Tr29) - thể “độc vận, tứ đối”, nghĩa là bài thơ thất ngôn chỉ có 1 chữ vần nhưng có 4 cặp đối, mà một bài thơ Đường Luật với yêu cầu bắt buộc phải có 2 cặp đối đã làm nhiều người rất “ngán”.

NON NƯỚC TRÀNG AN

Đây nơi hò hẹn non cùng nước

Này chốn giao hòa nước với non

Ngọn thấp ngọn cao non ngắm nước

Động to động nhỏ nước luồn non

Chiều chiều gió thoảng non quây nước

Sớm sớm sương mờ nước quấn non

Vạn thuở đắm say non ấp nước

Muôn đời nồng ấm nước ôm non!

Khi đọc bài này ta thấy cảnh núi non trùng điệp, nước với non cứ quấn quít lấy nhau, tác giả cố tình dùng những cụm từ: non cùng nước, nước với non, rồi non ngắm nước, nước luồn non, lại nữa non quây nước, nước quấn non, cuối cùng là non ấp nước, nước ôm non, để nói lên sự gắn bó khăng khít giữa núi và non làm cho thắng cảnh nơi đây xao xuyến có hồn hơn, lãng mạn hơn như một mối tình bất diệt. Nó cứ như những lời ca láy đi láy lại càng làm cho lòng người thư giãn hơn khi đến vãng cảnh nơi đây. Tôi cho đây là một thành công về dùng từ của tác giả với lối chơi “độc vận, tứ đối”, câu từ đối chan chát mà vẫn mượt mà làm cho bài thơ có một nét rất riêng.

Chị cũng vẽ nên một cách chân thật cảnh lũ lụt, hạn hán thất thường mà thiên nhiên khắc nghiệt đã đổ xuống:

Cạn khô hồ suối om tôm cá

Nứt nẻ ruộng đồng cháy cỏ cây

(MÙA HÈ NÓNG BỎNG - Tr41)

Rồi Ngõ dưới đường trên đều ngập cả

Gò cao ruộng thấp đã chìm rồi

(THƯƠNG LẮM MIỀN TRUNG - Tr38)

Sang phần thứ hai TÂM GIAO coi như một cái “nghiệp” mới của chị. Trong những tháng ngày lăn lộn với việc họ tại Hội đồng Toàn quốc Họ Phạm Việt Nam, với CLB thơ Luật Đường Phạm Đạo Phú chị đã nảy sinh rất nhiều tình cảm và đã gửi gắm vào thơ những bài thơ rất thành công. Tôi bị khuất phục bởi bài Vẻ vang dòng họ (Tr59) của chị.

VẺ VANG DÒNG HỌ

(Kính dâng Đô Hồ Đại Vương Phạm Tu,

Thượng Thủy Tổ Họ Phạm Việt Nam)

Tự hào Thủy Tổ Phạm gia ta

Thống lĩnh toàn quân sĩ nước nhà

Bắc cự Lương Triều giành độc lập

Nam bình Lâm Ấp dẹp can qua

Lừng danh võ nghệ thời trai trẻ

Hiển hách chiến công lúc tuổi già

Khai quốc Vạn Xuân ngời chính sử

Vẻ vang dòng họ, rạng sơn hà.

Đây là một bài thơ Đường luật rất chỉn chu về niêm luật, về đối và về vần điệu đều không thể bắt bẻ vào đâu được. Còn ý tứ của bài thơ thật đầy đủ nói lên công lao to lớn của Đô hồ Đại vương Phạm Tu - vị thống soái quân đội đâu tiên của nước ta, cầm quân đánh Nam, dẹp Bắc gìn giữ nền độc lập vừa mới giành lại được từ tay bọn phong kiến phương Bắc, thành lập một Nhà nước độc lập có tổ chức đầu tiên ở nước ta cách đây gần 1500 năm. Rồi tả chân được khí phách của Người. Chiến công của Người làm cho dòng họ Phạm vẻ vang thêm, làm cho đất nước ta rạng rỡ hơn. Có nhiều bài thơ về Thượng Thủy Tổ Họ Phạm Việt Nam - Đô Hồ Đại Vương PHẠM TU, đây có thể coi như một trong những bài thơ hay nhất nói về công lao của Thương thủy tổ họ Phạm Việt Nam!

Trong phần này còn có nhiều bài đáng đọc, trong đó tôi thích bài Mãi bền lâu (Tr60).

MÃI BỀN LÂU

(Kính tặng “Bộ ba Việc Họ”)

Mỗi người một xứ, chẳng gần nhau

Mà bỗng nên thân - TỘC bắc cầu

Việc họ cùng say, thành ý hợp

Văn thơ chung thích, hóa tâm đầu

Bù trừ cá tính, tình thêm vững

Dồn cộng sở trường, nghĩa mới sâu

Năm tháng ghi dày bao kỷ niệm

Anh em gắn bó mãi bền lâu.

Đây cũng là một bài thơ Đường luật chuẩn mực về mọi phương diện không cần và cũng không thể có ý kiến gì hơn. Ở đây, tôi chỉ muốn nói về ý tứ bài thơ. Phong trào hoạt động dòng họ của họ Phạm trong những năm qua có sự phát triển đặc biệt (kể từ khóa VI về trước) nên đã được Tổ chức Kỷ Lục Việt Nam cấp bằng Kỷ lục cho Họ Phạm Việt Nam là “Dòng họ thành lập Hội đồng sớm nhất; Dòng họ có qui mô tổ chức rộng khắp và lớn nhất; Dòng họ có cơ cấu tổ chức chặt chẽ nhất”, quy tụ được bà con cùng dòng họ tham gia việc họ hoạt động vấn tổ tầm tông, khuyến học khuyến tài thành công nhất. Góp phần vào sự thành công ấy có sự đóng góp đáng kể của bộ ba anh em (Phạm Đạo, Phạm Văn Dương và Phạm Thị Thúy Lan là Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Hội đồng Toàn quốc họ Phạm Việt Nam khóa VI) hết lòng vì việc họ. Bộ ba này gắn bó với nhau như anh em ruột thịt thành bạn tri âm tri kỷ của nhau, cùng vì dòng họ mà cống hiến hết mình.

Bài thơ này đã nói lên ngắn gọn mà rõ ràng quan hệ của ba anh em trong khi làm việc họ, cũng là quan hệ giữa những người làm việc họ chân chính với nhau. Bài thơ được Nhà thơ Phạm Đạo làm thành một video clip được hàng mấy ngàn bạn đọc xem và có nhiều bình luận rất cảm động!

Quan hệ của các thành viên CLB Thơ Phạm Đạo Phú cũng đặc biệt bởi chỉ gặp nhau trên mạng mà phần lớn là chưa biết nhau vì sinh sống khắp nơi trong nước và cả nước ngoài, nhưng vẫn thân thiết, bởi thơ là người, chỉ cần qua thơ đã gắn bó với nhau, trở thành tâm giao.


CLB THƠ TÔI


Tự hào Câu lạc bộ thơ tôi
Gặp gỡ nhau nhờ sóng điện thôi
Họ tộc kết giao từ mọi chốn
Tổ tông tìm nối tới muôn nơi
Gieo vần gửi mạng đi trăm nẻo
Chọn ý qua Mail đến cuối trời
Xướng họa Đường thi vui bạn hữu
Tình thân gắn bó – ánh trăng ngời
.

Phần thứ ba TÂM TÌNH càng có nhiều bài thơ hay đáng đọc. Với những bài thơ trong phần này, chị đã trải lòng mình mong chia sẻ với mọi người những nỗi niềm tâm sự mà chỉ thơ mới nói được, những nhớ, mong, chờ, đợi, khát khao, ví dụ bài Mơ tưởng (Tr87), bài Đôi gà ở Hạ Long (Tr117) bài Biển lặng sóng (Tr108), Mong ngóng (Tr98). Tình vạn thuở (Tr130), Lẻ bóng (Tr123), Đợi chờ (Tr131) v.v. với những cặp đối chuẩn mực chứa đựng tình cảm lai láng:

Cậy trăng soi tỏ tình son sắt

Nhờ gió giãi bày dạ vấn vương.

(BIỂN LẶNG SÓNG)

Tính tháng lê thê hôm sớm ngóng

Đếm ngày dằng dặc sáng chiều trông

(MONG NGÓNG)

Rồi Ngàn dặm cách xa càng nghĩa nặng

Trăm sông ngăn trở vẫn tình sâu

(TÌNH SÂUTr103)

Với tình chan chứa:

Niềm thương như thể chan trăm nẻo

Nỗi nhớ tưởng chừng trải vạn nơi

(CHIM ĐI TÌM BẠN)

Rồi Thu về dòng nhớ rì rào chảy

Đông đến giọt buồn thánh thót sa

(LẺ BÓNG)

Nồng nàn muốn dập mà không tắt

Say đắm mong ngăn chẳng khỏi trào

(TÌNH VẠN THUỞ)

Mà vẫn ngổn ngang tâm trạng:

Tất bật sớm hôm nhiều chát đắng

Long đong ngày tháng lắm chơi vơi

(ĐÂU NGỠ… NÀO NGỜ Tr86)

Ở đây, tôi xin phân tích bài Đôi thiên nga (Tr109)

ĐÔI THIÊN NGA

Giữa hồ dỡn sóng một đôi chim

Quấn quýt mê say, hút mắt nhìn:

Trắng muốt bộ lông - xòe hóa cánh

Đỏ au cặp mỏ - chụm thành tim

Tung tăng giữa bão đông, luôn nổi

Vùng vẫy trong mưa hạ, chẳng chìm

Ngày tháng không bao giờ cách biệt

Vắng nhau vài phút, ngẩn ngơ tìm…

Đây là một bài thơ hội đủ các tiêu chí của một bài thơ hay. Đó là trong thơ phải có đủ ý (tình) - nhạc - họa.

Về ý, nói lên tình yêu của đôi thiên nga đẹp biết bao nhiêu chúng quấn quýt bên nhau chẳng muốn rời: Ngày tháng không bao giờ cách biệt/Vắng nhau vài phút, ngẩn ngơ tìm…Về họa thì thật là tuyệt: trắng muốt bộ lông xòe hoá cánh / Đỏ au cặp mỏ chụm thành tim. Về luật lệ thì rất chuẩn, đối nhau chan chát. Bài này đã được 2 Nhạc sĩ nổi tiếng Lê Xuân Thọ và Lê Tiến Chúc phổ nhạc và Nhà thơ Phạm Đạo làm thành video clip được rất nhiều bạn đọc gần xa vào xem và bình luận.

Và một bài rất đặc biệt Theo dòng tương tư (Tr98)

THEO DÒNG TƯƠNG TƯ

Nén mãi không vơi nổi mối sầu

Ơi Tương giang, nước chảy về đâu

Tháng ngày canh cánh đầy vơi nhớ

Mộng tưởng chập chờn thánh thót ngâu

Khơi dậy vần thơ buồn lệ đắng

Dâng trào dòng chữ buốt tim đau

Muôn trùng cách trở đường chia lối

Nức nở đêm trường đếm giọt châu!

Có thể nói đây là một bài thơ buồn. Tác giả đã khéo dùng các cụm từ : đầy vơi nhớ, buồn lệ đắng, buốt tim đau, đếm giọt châu làm cho sự cô đơn buồn chán nâng lên đến tột độ. Bài này có một sức lan tỏa ghê gớm chỉ sau một ngày bài thơ được trình làng đã có tới 50 bài họa trong đó không chỉ có các thành viên CLB Thơ Đường Luật Phạm Đạo Phú mà còn có nhiều nhà thơ không phải hội viên. Sở dĩ bài thơ có sức lan tỏa như vậy bởi vì tâm trạng của bài thơ ai đọc cũng thấy có bóng dáng mình trong đó. Tôi cho rằng đây là một thành công lớn của tác giả.

Xin giới thiệu một bài họa hay nữa của tác giả, biến bài xướng thơ từ tâm trạng buồn chán trở nên rộn rã (Tr64):

CHẲNG HẮT HIU

Ai bảo hưu rồi sẽ hắt hiu

Bánh đa bị ướt sẽ mềm xìu?

Việc phường cả tháng, không cho hỏng ?

Việc họ suốt ngày, chẳng để “thiu”

Hoa mãi tươi ngời, xuân vẫn rộn

Cành luôn vươn tỏa, sức đâu “khiu”?

Làm sao còn kịp mà buồn bã

Lửa vẫn bừng lên, át “tép riu”!

Bài này là họa bài thơ “tử vận” của Phạm Văn Dương CẢNH ĐÌU HIU, bài đó như sau:

CẢNH ĐÌU HIU

Mưa dầm, gió bấc, cảnh đìu hiu

Trời ẩm mốc meo, đất ỉu xìu.

Bà goá đơn côi lòng chán ngắt

Ông già cô độc dạ buồn thiu.

Bến sông heo hút hình xơ xác

Cây cối vật vờ dáng khẳng khiu.

Đêm thẳm trùm căn nhà tịch mịch

Một mình một đốm lửa liu riu.

PHẠM VĂN DƯƠNG

Trong thơ Đường luật khi họa ngán nhất là người ra bài Xướng dùng “tử vận”. Trong trường hợp này thì người họa phải thực sự có tài mới họa nổi. Trong bài xướng, Phạm Văn Dương đã dùng “tử vận” - iu thì thật là khó. Nhưng tác giả Phạm Thúy Lan đã có những sáng tạo. Chị đã thay cụm từ đìu hiu thành hắt hiu, cụm từ ỉu xìu thành cụm từ mềm xìu, cụm từ buồn thiu thành cụm từ để thiu, khẳng khiu thành đâu khiu, liu riu thành tép riu. Thật tuyệt!

Tất cả các bài trong tập đều “đứng được” đó là một cố gắng lớn, một thành công của tác giả. Ai cũng có thể tìm thấy trong tập thơ này những bài tâm đắc, những câu thơ hay, những cặp đối độc đáo. Người ta thường bảo thơ Đường luật là khô cứng, nhưng những bài thơ của chị nhất là ở phần thứ hai, thứ ba thì lại rất mềm mại, rất tình, đầy nữ tính!

Tóm lại đây là một tập thơ đáng đọc. Xin chúc mừng tác giả và xin giới thiệu với bạn đọc!

Adelaide, 05/01/2019

PGs.Ts-Nhà thơ Phạm Đạo

  Số lượt xem: 109
   
Các tin tức khác
   Chùm thơ thứ 2
   BUỔI RA MẮT TÁC PHẨM MỚI
   Bài 3 trong CM Giới thiệu Tác phẩm mới
   Lời bình tập "Phạm Đạo tuyển thơ"
   GIỚI THIỆU TÁC PHẨM MỚI

 
© Copyright 2008 by Kehe -Trang web gia dinh.
All rights reserved. Designed by Vietnam Datacommunication Company - VDC2.