Trang chủ
Quê hương đất nước
Dòng họ
Gia đình
Bè bạn
Văn học nghệ thuật
Góc thư giãn
Liên hệ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Giới thiệu tác phẩm "Đợi anh về" 4.11.17
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Tự hào họ Phạm VN-11.11.17
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Hoa hậu VN 2017-7.1.2017
 

Số lượt truy cập
AmazingCounters.com

 
Vì sao tôi yêu nghề dạy học
 

VÌ SAO TÔI THEO NGHỀ DẠY HỌC

Nguyễn Chí Hiếu


Vào tuổi già, con người thường hay suy tư, hồi tưởng về quá khứ. Có nhiều chuyện vui nhưng cũng không ít chuyện buồn. Có nhiều sự kiện đáng nhớ, nhưng cũng có sự kiện nên quên.Với tôi, việc vào đời và theo nghề dạy học thật bất ngờ và cũng thật đáng yêu. Ngẫm đi ngẫm lại, người đời nói đúng: Ghét của nào trời trao của ấy.

Tôi sinh ra ở Hà Nội trong một gia đình công chức nghèo, tuổi thơ của tôi sống trong hạnh phúc tràn đầy.

Tôi cắp sách đến trường như bao đứa trẻ khác, học khá nhất là những môn toán và khoa học thường thức, sống ngăn nắp, sạch sẽ, được thầy yêu, bạn mến.

Ở bậc tiểu học, tôi không được học cô giáo. Các thầy giáo của tôi thường đứng tuổi, nghiêm khắc, ít nói. Những hình ảnh ấy đã gây lại cho tôi ấn tượng người làm nghề “gõ đầu trẻ” ít năng động và nhàm chán “sáng vác ô đi tối vác về”

Rồi cách mạng tháng 8/1945 thành công, kiếp sống nô lệ của dân tộc ta dã bị đập tan. Bình minh rạng chói trên phương trời Đông.

Tôi không thể nào quên được hình ảnh Bác Hồ đứng trên kỳ đài vẫy tay chào nhân dân thủ đô Hà Nội nhân ngày Tuyên ngôn độc lập trên sân cỏ Ba Đình, mùa thu năm ấy.

Chẳng bao lâu sau, toàn quốc kháng chiến chống Pháp 19/12/1946 bùng nổ. Gia đình tôi tản cư về Ninh Bình. Nơi đây là quê hương của cha mẹ tôi. Cha tôi ở lại chiến đấu bảo vệ thủ đô cho đến ngày được lệnh rút để bảo toàn lực lượng.

Năm 1948, lần đầu tiên tôi phải xa nhà đi trọ học ở Yên Mô – Ninh Bình. Đây là trường Nguyễn Khuyến duy nhất của Liên khu 3(1), có từ lớp Đệ nhất Trung học đến Đệ tam chuyên khoa (tú tài).

Kháng chiến chống Pháp ngày càng ác liệt. Địch chủ trương mở rộng chiến tranh ra vùng tự do. Năm 1949, giặc Pháp nhảy dù chiếm đóng Phát Diệm, trường tôi lại chia nhỏ sơ tán đi nhiều nơi như: Nho Quan Ninh Bình và Hậu Hiền Thanh Hóa.

Mẹ tôi là người tháo vát, biết tổ chức tăng gia sản xuất nên vẫn quyết tâm trợ cấp cho tôi đi theo trường.

Cuối năm 1951, tôi được gọi đi học nước ngoài (Trung Quốc) theo tiêu chuẩn con em cán bộ. Một tháng trời ròng rã, đêm đi, ngày nghỉ, lội suối, trèo đèo, rồi cũng tới Mục Nam Quan. Tới ga Bằng Tường, không khí thái bình của đất nước Trung Hoa vừa mới giải phóng(2) làm lòng tôi se lại nhớ tới gia đình, nhớ tới Tổ quốc đang có chiến tranh.

Ngày hôm sau, chúng tôi tới Nam Ninh – thủ phủ của tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Nơi đây là khu học xá, nơi tập kết của thầy giáo và học sinh Việt Nam. Chúng tôi sẽ được nuôi dưỡng ăn học ở đây theo sự thỏa thuận của hai chính phủ. Tất cả chúng tôi được nhận quần áo, giầy dép, chăn màn, dụng cụ học tập. Nhưng tôi rất buồn và rất thất vọng khi biết mình được phân vào khối Sư phạm. Bao nhiêu mộng tưởng đều tan biến. Trở lại Việt Nam ư? Không thể. Biết tâm sự cùng ai bây giờ. Cái nghề bán cháo phổi mà bản thân tôi không thích lại trao cho tôi. Nhiều đêm tôi ngủ không ngon mỗi khi nghĩ tới tương lai, nghề nghiệp của mình.

Nhưng thời gian dần trôi, càng ngày tôi càng được giác ngộ, sống có lý tưởng hơn, có hoài bão hơn. Thầy giáo và bạn bè hiểu rõ tâm tư của tôi. Mọi người đều dồn tình cảm cho tôi, giúp đỡ tôi về mọi mặt. Thầy Nguyễn Hữu Hiếu, giáo viên dạy nhạc tôi biết tiếng từ lâu. Thầy từng đoạt giải nhất toàn Đông Dương về biểu diễn đàn piano ân cần trìu mến khuyên bảo tôi khi biết tâm trạng của tôi. Cô chủ nhiệm lớp Lê Thị Nhu, là giáo viên dạy văn học. Giọng nói của cô thật nhẹ nhàng, ấm áp, dễ đi vào lòng người. Nhờ sự ân cần dìu dắt dạy bảo của cô, chúng tôi học tập ngày càng tiến bộ và coi cô như người mẹ của mình. Tôi không thể nào quên khi nghe cô giảng về tình yêu quê hương đất nước và dẫn ra lời nói bất hủ của đại văn hào Xô viết Ilia-ê-ranh-bua. Cả lớp chúng tôi ngồi im phăng phắc như muốn nuốt từng lời. Thầy Lê Bá Thảo, giáo viên địa lý nói chuyện ngoại khóa về công trình kênh đào Volga - Đông Liên Xô (cũ) thật hoành tráng. Thầy vừa giảng, vừa minh họa bằng sơ đồ một cách chính xác, tinh tế. Thầy có biệt tài vẽ bằng cả hai tay để tránh bị lấp bảng. Thầy Việt Phương giới thiệu về nhân vật Paven-Cooc-sa-ghin nổi tiếng trong tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy”; chúng tôi như bị thầy thôi miên vừa dẫn chuyện vừa phân tích một cách cuốn hút. Tài kể chuyện ấy chính là hình ảnh mẫu mực cho những ai muốn vươn lên làm diễn giả tài ba.

Các thầy giáo yêu quý của chúng tôi không chỉ mang lại cho chúng tôi sự hiểu biết phong phú về tri thức, sự trong sáng về tâm hồn mà còn hàm chứa tính nghiệp vụ sư phạm một cách nhẹ nhàng.

Đặc biệt đợt thực tập cuối khóa học đã giúp chúng tôi làm quen với hoạt động nghề nghiệp như soạn giáo án, dạy thử, lên lớp, rút kinh nghiệm bài giảng. Buổi kiến tập đầu tiên, thầy Phan Trác Nghị dạy mẫu bài tập đọc ở lớp 4 cho chúng tôi dự giờ. Tiết học vừa hết tất cả chúng tôi đứng dậy vỗ tay hoan nghênh một cách tâm phục khẩu phục. Một bài giảng sinh động, hay tuyệt vời. Chúng tôi đều có chung một ý nghĩ là muốn có được một bài giảng đạt kết quả cao phải có vốn tri thức, có phương pháp tốt. Đúng là phải biết mười để dạy một. Giờ đây tôi mới hiểu hết ý nghĩa của câu nói: Dạy học là một nghề cao quý trong những nghề cao quý, nó vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Thầy giáo là người kỹ sư tâm hồn. Kết thúc đợt kiến tập thực tập, tôi giành được điểm khá. Riêng với tôi, điều thu hoạch lớn nhất là: nghề dạy học đã hoàn toàn chinh phục tôi.

Chẳng bao lâu sau, mùa đông năm 1952, vừa kết thúc khóa học, chúng tôi làm lễ tốt nghiệp ra trường. Hàng ngàn thầy trò khu học xá Nam Ninh, hàng trăm cán bộ, công nhân viên Trung Quốc liên hoan tiễn đưa hơn một trăm giáo sinh chúng tôi – đứa con đầu lòng của khu học xá-lên đường trở về Tổ Quốc phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước trong niềm nhớ nhung, bùi ngùi, lưu luyến. Cả rừng người hát vang bài ca “Ta vui với gió lên đường…”

Con tàu đưa nhanh chúng tôi về phía biên giới Việt Trung. Chỉ cần bước qua Mục Nam Quan là chúng tôi đã đứng trên mảnh đất thân yêu của Tổ Quốc.

Tôi nhanh chóng hòa mình vào cuộc sống của toàn dân đang dồn toàn bộ sức mạnh của mình chống lại đế quốc Pháp xâm lược. Tin vui chiến thắng dồn dập đến, Hòa Bình súng reo giải phóng, trung du giặc chết tơi bời… Tuy nhiên giặc Pháp vẫn còn ngoan cố chiếm đóng các thành phố như Hà Nội - Hải Phòng - Nam Định, tăng cường rải quân kiểm soát huyết mạch giao thông lớn, chạy ngang dọc trên khắp đồng bằng Bắc Bộ.

Đứng trước hoàn cảnh hiểm nguy của đất nước, được sự cổ vũ động viên của gia đình, tôi đã nộp đơn tình nguyện xung phong vào công tác ở vùng địch hậu Nam Định. Mặc dù tôi là con trai độc nhất của gia đình, mặc dù tôi biết nơi tôi sẽ đến vô cùng gian khổ, nơi đầu sóng ngọn gió , thường xuyên đối mặt với cái chết. Lời khẩn cầu tha thiết của tôi được đồng chí Giám đốc khu giáo dục Liên Khu 3 chấp nhận.

Đầu năm 1953, vừa tròn 18 tuổi xuân tràn đầy nhựa sống, tôi chính thức bước chân vào đời và vào nghề dạy học từ đây.

Đồng chí Nguyễn Kim Danh, trưởng ty Giáo dục tỉnh Nam Định đã báo cáo cho chúng tôi nghe về tình hình hoạt động mọi mặt của tỉnh và nhấn mạnh đến phòng trào giáo dục hiện có của tỉnh ta. Ty điều động tôi về công tác tại huyện Nam Trực, một huyện miền bắc tỉnh, tiếp giáp với thành phố Nam Định và bổ nhiệm tôi làm hiệu trưởng trường cấp 1 - Thực là quá sức đối với tôi.

Tôi lo lắng nhiều trước nhiệm vụ được giao, vì Sư phạm khu học xá mới chỉ đào tạo tôi nghiệp vụ làm thày giáo, chứ chưa trang bị cho tôi kiến thức về công tác quản lý và lãnh đạo nhà trường.

Nhưng đứng trước cái khó sẽ ló cái khôn. Thời thế sẽ tạo nên anh hùng. Bây giờ cờ đã đến tay buộc tôi phải phất. Tôi không cho phép bản thân mình chùn bước trước khó khăn. Bởi vì trong tôi luôn thường trực một sức mạnh tinh thần của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dám xả thân để cứu đàn em nhỏ, thế hệ tương lai của đất nước.

Dân trong vùng địch hậu sống trong sự o ép, nghèo đói, thất học. Quân địch tàn ác luôn càn đi, quét lại, cướp bóc, giết chóc, tù đày. Chính điều đó đã tạo nên lòng căm thù giặc sâu sắc, tạo nên sức mạnh đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược.

Đầu năm 1953, tôi làm hiệu trưởng cấp 1 xã Nam Đồng, năm sau đó, tình lại điều tôi lên phụ trách xã Nam Điền., một xã nằm liền kề với thành phố Nam Định. Đây là khu vực diễn ra sự tranh chấp vô cùng ác liệt giữa ta và địch.

Phong trào giáo dục của ta ở cả hai xã trên đều chưa được xây dựng, lác đác có một vài lớp do các thầy hương sự tự phát tổ chức.

Để dựng lên được hệ thống trường lớp mang tính chất cách mạng tiến bộ, dân chủ mới thật là vô cùng khó khăn, gian khổ, có khi phải đổi bằng máu và nước mắt.

Để hoàn thành được nhiệm vụ trọng đại này, tôi phải tự nhân mình lên thành người khổng lồ có nhiều tay, nhiều mắt bằng cách dựa hẳn vào dân xây dựng giáo dục. Đúng như lời Bác Hồ đã dạy:

Dễ trăm lần không dân cũng chịu.

Khó vạn lần dân liệu cũng xong.

Tôi lao vào hoạt động không kể ngày đêm, từ việc vận động học sinh đi học, phân loại trình độ học sinh để phân vào các lớp, tìm nơi đặt lớp học, tuyển lựa, bồi dưỡng giáo viên, hướng dẫn cách soạn bài, lên lớp, chấm bài. Ngoài ra còn phải xây dựng phương án bảo vệ học sinh khi địch bao vây càn quét. Bản thân tôi còn giảng dạy trực tiếp lớp 4 cho học sinh liên xã.

Chỉ sau một thời gian ngắn, thầy trò chúng tôi đã dựng lên được hệ thống trường lớp hiên ngang đứng giữa vòng vây của địch.

Bằng nội dung giáo dục tiến bộ của ta, giáo dục lòng yêu nước, yêu quê hương, lòng căm thù giặc sâu sắc, chúng ta đã hình thành nên một lớp người sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc, biết sống vì mình và vì mọi người. Các lớp học của thầy trò tôi có thể coi như những “ụ súng im lặng” bao vây quân thù. Riêng tôi cũng hết sức vui mừng phấn khởi đã đóng góp được một phần vào thành quả chung đã đạt được, xứng đáng với danh hiệu “Người thầy giáo - chiến sĩ”.

Hòa bình lặp lại ở Đông Dương, hạnh phúc đã đến với mọi nhà, trong đó có tôi. Cũng từ trên mảnh đất của xứ sở trồng hoa cây cảnh nổi tiếng này, tôi đã đón nhận mái ấm gia đình hạnh phúc riêng.

Sau khi dự hội nghị giáo dục toàn quốc về, tôi được điều động đi nhận công tác mới ở Khu giáo dục Liên Khu 3. Đến với lĩnh vực mới này, tôi có điều kiện đi sâu học tập, nghiên cứu đọc sách chuyên môn sư phạm. Đặc biệt, Khu đã cử tôi tham gia mở các lớp đào tạo ngắn ngày về nghiệp vụ dạy học nhằm chính thức hóa đội ngũ giáo viên dân lập trong Liên khu. Đây chính là bước ngoặt lớn trong đời dạy học của tôi.Từ một thầy giáo đứng lớp dạy học sinh, tiến lên đứng lớp dạy cho các thầy giáo.

Khi khu giáo dục giải thể, tôi trở lại cộng tác Nam Định. Đồng chí Hoàng Trung Tích – trưởng ty giáo dục (bây giờ là Sở) – quyết định điều tôi về làm hiệu trưởng cấp 2 Nam Giang – Nam Trực niên khóa 1960 – 1961.

Năm học sau (1961 -1962) ty lại chuyển tôi về làm hiệu trưởng trường cấp 2 quốc lập Nam Trung – Nam Trực. Đây là một trường lớn, trọng điểm của tỉnh. Do vậy, đòi hỏi tôi phải nỗ lực rất nhiều. Một năm trôi qua, nhà trường giành được thành tích xuất sắc, riêng tôi đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua xuất sắc của ngành giáo dục tỉnh Nam Định.

Năm 1962 – 1965, Ty lại giao cho tôi một trọng trách lớn hơn. Hiệu trưởng trường 7 năm Yên Cường – Ý Yên.

Trường Yên Cường là trường thí điểm đầu tiên về hệ thống đào tạo liên tục hoàn chỉnh từ lớp 1 tới lớp 7. Trường còn phải thí điểm về tổ chức thực hiện mô hình lãnh đạo “Một hội đồng, hai nhiệm vụ”, hiệu trưởng có trách nhiệm lãnh đạo cả hai ngành học phổ thông và bổ túc văn hóa.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ, ty giáo dục, suốt 3 năm trời chúng tôi đoàn kết, thi đua hoàn thành mọi chỉ tiêu cấp trên yêu cầu một cách xuất sắc. Trường dẫn đầu về chuyên môn trong tỉnh, giữ vững và phất cao lá cờ đầu về bổ túc văn hóa toàn miền Bắc, được bác Tôn Đức Thắng về thăm trường năm 1963 – 1964.

Có thể nói cả tuổi thanh xuân của tôi, gần một phần ba cuộc đời dạy học của tôi đã dành cho sự nghiệp giáo dục Nam Định. Và chính vì lẽ đó, tôi coi Nam Định là quê hương thứ hai của mình.

Khi giặc Mỹ tiến hành bắn phá miền Bắc nước ta thì cũng là lúc cuộc đời dạy học của tôi lật sang trang sử mới. Tôi chuyển lên hoạt động trong môi trường giáo dục đại học suốt 30 năm sau đó.

Trong khoảng 10 năm đầu, Đảng và chính phủ cử tôi đi học hai chuyên ngành khoa học Vật lí học và triết học bậc đại học và sau đại học ở trong nước và cả ngoài nước (Liên Xô cũ). Sau đó, tôi làm giảng viên triết học trường Nguyễn Ái Quốc phân hiệu 5. Đến năm 1978, Bộ giáo dục đào tạo, được sự đồng ý của Ban khoa giáo Trung ương Đảng cử tôi là một trong ba thành viên mở khoa triết học trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi được bổ nhiệm làm phó chủ nhiệm khoa, kể từ ngày được thành lập cho đến khi nghỉ hưu rời khỏi bục giảng đường.

Thế là cuộc đời dạy học của tôi chấm dứt sau 40 năm công tác. Tôi đã hoạt động qua các thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, kinh qua giảng dạy cấp học phổ thông, sư phạm, đại học: dạy các môn Vật lý học, Phương pháp giảng dạy và triết học

Bây giờ, tôi đã nghỉ hưu được gần hai mươi năm, được sống trong không khí hòa bình thống nhất đất nước, sng trong gia đình hạnh phúc trọn vẹn.

Danh lợi với tôi giờ đây không còn vướng bận. Tôi thường hoài niệm đến những sự kiện đầu tiên mang tính quyết định của một đời người. Tôi nhớ lại tất cả những người đã cùng đi với tôi, dìu dắt, động viên, giúp đỡ tôi vững bước trên con đường cách mạng. Tôi muốn mãi mãi gặp lại các bạn đồng nghiệp và học sinh mà tôi hằng yêu quý trước khi từ giã cõi đời này để trở về với cát bụi. Nếu quả thật có kiếp sau, tôi xin nguyện lại được tiếp tục đi theo nghề mà tôi từng bị cuốn hút “Nghề gõ đầu trẻ”.

Mùa hè năm 2012

Ghi chú:

(1) Liên khu 3: gồm 6 tỉnh hữu ngạn sông Hồng: Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Đông, Sơn Tây.

(2) Trung Quốc giải phóng năm 1949.

(3) Trường Đại học Tổng hợp: Bây giờ tách thành 2 trường: Khoa học Xã hội và Nhân văn – Trường Khoa học Tự nhiên.


  Số lượt xem: 77
   
Các tin tức khác
   NGHĨA TÌNH ĐẰM THẮM
   Thầy giáo Phạm Văn Hoàn
   Thông báo của BLL KHXTW
   Vô cùng thương tiếc anh Trần Việt Phương
   Thông báo của BLL KHX TW

 
© Copyright 2008 by Kehe -Trang web gia dinh.
All rights reserved. Designed by Vietnam Datacommunication Company - VDC2.